Website được thiết kế tối ưu cho thành viên chính thức. Hãy Đăng nhập hoặc Đăng ký để truy cập đầy đủ nội dung và chức năng. Nội dung bạn cần không thấy trên website, có thể do bạn chưa đăng nhập. Nếu là thành viên của website, bạn cũng có thể yêu cầu trong nhóm Zalo "BHYT" các nội dung bạn quan tâm.

Kiểm soát kháng sinh dự phòng theo Quyết định 708: Lưu ý mốc 24 giờ để tránh bị xuất toán

Kháng sinh dự phòng (KSDP) đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ. Tuy nhiên, việc sử dụng kéo dài sai quy định hoặc thiếu minh chứng cận lâm sàng đang khiến nhiều bệnh viện bị truy thu chi phí thuốc và dịch vụ liên quan.

1. Quy định về thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng

Theo Quyết định số 708/QĐ-BYT của Bộ Y tế, nguyên tắc cốt lõi của KSDP là nồng độ kháng sinh phải đạt đỉnh trong mô tại thời điểm rạch da và duy trì trong suốt quá trình phẫu thuật.

  • Thời gian bắt đầu: Thường dùng trong vòng 60 phút trước khi rạch da.

  • Thời gian kết thúc: Đối với hầu hết các loại phẫu thuật, KSDP chỉ nên duy trì không quá 24 giờ sau mổ. Việc kéo dài thời gian dùng thuốc không giúp giảm thêm nguy cơ nhiễm trùng mà còn làm tăng tỷ lệ kháng thuốc và chi phí điều trị.

2. Nguy cơ xuất toán khi thiếu minh chứng nhiễm trùng

Cơ quan BHXH sẽ căn cứ vào thời gian phẫu thuật trên tờ trình phẫu thuật để đối soát với thời điểm kết thúc y lệnh kháng sinh.

  • Lỗi kéo dài quá 24 giờ: Nếu bác sĩ tiếp tục cho dùng kháng sinh sau 24 giờ kể từ khi kết thúc phẫu thuật mà không có bằng chứng nhiễm trùng lâm sàng hoặc cận lâm sàng, toàn bộ chi phí thuốc từ ngày thứ 2 trở đi sẽ bị xuất toán.

  • Thiếu chỉ số cận lâm sàng: Để chuyển từ "Kháng sinh dự phòng" sang "Kháng sinh điều trị", hồ sơ bệnh án phải có minh chứng rõ ràng về tình trạng nhiễm trùng như: số lượng bạch cầu (WBC) tăng cao, chỉ số CRP hoặc Procalcitonin tăng, hoặc kết quả nuôi cấy bệnh phẩm dương tính.

3. Ngăn chặn nguy cơ xuất toán cho đơn vị

Để đảm bảo việc sử dụng kháng sinh đúng hướng dẫn chuyên môn và an toàn về mặt tài chính BHYT, cơ sở y tế cần thực hiện các biện pháp sau:

  • Chuẩn hóa danh mục phẫu thuật có chỉ định KSDP: Hội đồng Thuốc và Điều trị phối hợp với khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn ban hành quy định nội bộ cụ thể cho từng loại phẫu thuật (sạch, sạch - nhiễm) và loại kháng sinh tương ứng.

  • Cảnh báo tự động trên phần mềm HIS: Thiết lập hệ thống nhắc nhở hoặc chặn y lệnh. Nếu y lệnh kháng sinh dự phòng kéo dài quá 24 giờ, phần mềm sẽ yêu cầu bác sĩ phải nhập mã chẩn đoán nhiễm trùng kèm theo kết quả xét nghiệm minh chứng mới có thể ký số đơn thuốc.

  • Giám sát tuân thủ phác đồ: Định kỳ rà soát các ca phẫu thuật có sử dụng kháng sinh chi phí cao. Nếu phát hiện tình trạng lạm dụng kháng sinh "bao vây" sau mổ mà thiếu căn cứ khoa học, cần chấn chỉnh ngay trước khi đẩy dữ liệu lên cổng giám định XML.